Đánh giá lại GDP: Làm rõ hơn một số chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng kinh tế
Đánh giá lại GDP: Làm rõ hơn một số chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng kinh tế

Vietstock – Đánh giá lại GDP: Làm rõ hơn một số chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng kinh tế

Năm 2018, Tổng cục Thống kê đã công bố GDP được đánh giá lại thời kỳ 2010-2017. Nhưng từ 2018 tới nay, chưa công bố chính thức. Trong Niên giám thống kê 2019, Tổng cục Thống kê mới “hé lộ” (tổng số), nhưng chưa biết có công bố chính thức và toàn bộ trong Niên giám thống kê 2020 tới đây ko?…

Trên Vietnamnet sắp đây đã có một số bài đề cập tới vấn đề này (như “Ko thể đặt 30% GDP ra “ngoại trừ vòng pháp luật”, “GDP và nỗi niềm của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê”, “Bà nội trợ, quyền lực ngầm kinh tế Việt Nam”, “GDP của Việt Nam bắt buộc vượt mốc 500 tỷ USD”, “Lạ lùng số liệu GDP”…). Người viết cũng đã có bài đề cập khá sâu, rộng về đánh giá lại GDP, nên trong bài này cũng chỉ đề cập tới một số vấn đề chủ yếu.

ĐÁNH GIÁ LẠI LÀ CẦN THIẾT

Sự cần phải có của việc đánh giá lại GDP xuất phát từ ba vấn đề chủ yếu.

Vấn đề thứ nhất là để “đính chính” lại một số sai sót trong việc thống kê về chỉ tiêu này trong thời gian trước. Tổng cục Thống kê đã đề cập tới 4 nguyên nhân chủ yếu: (1) Do năng lực điều tra, thu thập tư liệu thống kê; (2) Do ko chủ trương thống kê phi chính thức; (3) Do ko thừa nhận kinh tế bất hợp pháp; (4) Do sẽ làm tăng nghĩa vụ đóng góp của Việt Nam theo thông lệ vào mọi tổ chức quốc tế.

Tuy nhiên, những nguyên nhân được đề cập ở trên chưa hoàn toàn toàn bộ, chính xác và cụ thể.

Về nguyên nhân thứ nhất, ko hoàn toàn do năng lực điều tra, thu thập tư liệu thống kê, mà còn phụ thuộc vào mọi đối tượng cung cấp thông tin, người làm công tác thống kê và một số tổ chức, cá nhân tiêu dùng thông tin thống kê.

Đối sở hữu siêu thị, thông tin mà thống kê nhận được phụ thuộc vào mức độ chính xác của thông tin (nhất là lãi/lỗ) do kế toán cung cấp. Mà thông tin này đã được ko ít người hài hước bằng câu hỏi 1 + 1 bằng mấy.

Lúc tuyển dụng người làm kế toán, có 3 người là đối tượng: lúc người tuyển dụng đặt câu hỏi 1 + 1 bằng mấy, một đối tượng trả lời ngay rằng 1 + 1 = 2, nhưng ko được tuyển; một người khác trả lời 1 + 1 = 3 cũng ko được tuyển dụng; người còn lại trả lời 1 + 1 = ý thủ trưởng, người này được đã được tuyển dụng ngay. Lý do là vì ý thủ trưởng thì biến hóa lắm: sở hữu cơ quan thuế thì bắt buộc lỗ, để ko bắt buộc nộp thuế thu nhập, thậm chí còn được cấp bù; sở hữu ngân hàng thì bắt buộc lãi, bởi có lãi thì ngân hàng mới cho vay lúc “trông giỏ bỏ thóc”; sở hữu thi đua thì bắt buộc lãi, bởi “thi đua là bắt buộc đi đầu, đi đâu ko biết đi đầu cứ đi”.

Chẳng thế mà tỷ suất lợi nhuận bình quân chung của mọi siêu thị chỉ đạt khoảng 4-5%, trong đấy siêu thị ngoại trừ nhà nước còn thấp hơn – tức là thấp xa so sở hữu lãi suất gửi ngân hàng (hay lãi suất thực âm), lại càng thấp xa so sở hữu lãi suất vay ngân hàng – tức là “ăn vào vốn”.

Đối sở hữu hộ gia đình, cá nhân có ghi chép đâu mà chính xác; trước đây, mọi thu nhập đều từ lương và do mọi bà mẹ giữ, nay trong cơ chế thị trường thì thu nhập từ nhiều nguồn (từ lương, từ chứng khoán, từ phong bì…), bằng nhiều phương thức khác nhau (tiền mặt, từ thẻ tín dụng, từ tài khoản…), được phân tán từ nhiều người trong gia đình, tới bản thân người đấy cũng chẳng nắm được hết, thậm chí chẳng nói ra chính xác…

Người làm công tác thống kê nhìn chung là rất tốt cả về đạo đức, tác phong, nghiệp vụ chuyên môn, nhất là tính trung thực, khách quan nhưng gặp khó khăn về kinh phí, về bảo đảm tính độc lập, khách quan trong nghiệp vụ, tổ chức; một số cán bộ còn có hạn chế về nghiệp vụ, về bảo vệ tính khách quan, còn mắc bệnh “minh họa”…

Người tiêu dùng thông tin thì ko ít người thích thành tích, lại có tư duy nhiệm kỳ, nên đã gợi ý, thậm chí còn “ép” người làm thống kê – người cân đong đo đếm – hoặc bắt buộc “minh họa” theo nghị quyết, hoặc “tô hồng” là vượt mục tiêu… Trong nguyên nhân thứ nhất này cũng cần nói thêm về đặc điểm của điều tra chọn mẫu, lúc suy rộng từ điều tra ít ra toàn bộ, thì khoa học toán đã chứng minh sai số chọn mẫu ở mức ±5% đã là chính xác lắm rồi.

Về nguyên nhân thứ hai ko hoàn toàn chính xác. Từ rất lâu rồi vẫn thu thập thông tin của khu vực này; nhưng lúc chuyển sang kinh tế thị trường hoạt động của họ đa dạng, phong phú, ko thu thập được toàn bộ, chứ ko bắt buộc là ko chủ trương.

Về nguyên nhân thứ ba cũng ko hoàn toàn đúng, chẳng qua là ko có khả năng thu thập được, nhất là tham nhũng, thất thoát, mại dâm… Tuy ko thu thập được trực tiếp, nhưng lúc đã chuyển thành đất đai, nhà cửa… thì cũng đã có phản ánh một phần ko nhỏ rồi, trường hợp ko thì làm sao tỷ trọng kinh tế cá thể có thể đạt trên dưới 30% GDP, thu từ công nghiệp dịch vụ ngoại trừ nhà nước (tuy có cả một phần là kinh tế chính thức, nhưng cũng có một phần kinh tế phi chính thức đã được tính wor một số khoản thu khác) chiếm 15,4% tổng thu ngân sách.

Vấn đề thứ hai, GDP có liên quan tới rất nhiều chỉ tiêu khác/GDP, như vốn đầu tư, thu, chi, bội chi ngân sách, xuất/nhập khẩu, xuất/nhập siêu, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoại trừ… GDP đánh giá lại cao hơn GDP chưa đánh giá lại sẽ làm cho nhiều chỉ tiêu này so sở hữu GDP đánh giá lại bị thấp xuống so sở hữu trước đây, đặt ra vấn đề cần xác định lại mục tiêu cũng như có giải pháp để xử lý mọi chỉ tiêu này theo mục tiêu mới.

Vấn đề thứ ba, đánh giá lại để so sánh quốc tế về GDP, GDP bình quân đầu người và nhiều chỉ tiêu có liên quan khác. Hơn thế nữa, lúc được đánh giá lại, GDP sẽ lớn lên, sẽ làm cho Việt Nam hấp dẫn hơn, sẽ có lòng tin cao hơn của mọi tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, mọi nước và mọi nhà đầu tư nước ngoại trừ…

ĐÁNH GIÁ LẠI GDP KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ “TO LÊN”

Về nhận thức, đánh giá lại GDP chỉ là về mặt tính toán, còn thực tế hoạt động kinh tế về cơ bản vẫn như cũ, ko nên hiểu là tăng lên do sự vững mạnh của nền kinh tế, là thành tích tăng lên lúc so sánh sở hữu thời kỳ trước đây lúc so sánh chuyển vị thế so sở hữu khu vực Đông Nam Á, châu Á và thế giới.

Cùng sở hữu việc đánh giá lại GDP sẽ có hàng loạt mọi chỉ tiêu có liên quan lúc sánh sở hữu GDP đánh giá lại sẽ có sự thay đổi lúc so sở hữu GDP chưa đánh giá lại. Sự thay đổi này theo cả 2 hướng: xấu đi hoặc tốt hơn trước, tùy theo chỉ tiêu cụ thể như sau.

Tổng GDP của cả nước tính bằng VND (HN:VND) theo giá thực tế sẽ tăng lên so sở hữu lúc chưa đánh giá lại.

Theo đấy, sau đánh giá lại so sở hữu trước đánh giá lại GDP đã cao hơn (năm 2010 là 27%…, 2015 là 23,83%…, 2019 là 26,79%, ước 2020 là 26,8%) – đấy là mọi tỷ lệ tăng khá cao, bình quân cao hơn trên 25% (lúc số siêu thị bị sót khoảng 10% và chủ yếu là siêu thị quy mô nhỏ, lúc xuất/nhập khẩu tiểu ngạch chỉ chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất/nhập khẩu…). Nhưng tỷ lệ trên vẫn thấp hơn một số nước (năm 2017, bình quân chung 158 nước tính lại đã tăng 31%, cao nhất là Zimbabwe trên 60%), nhưng cũng cao hơn của Thụy Sĩ 7%, Italia trên 19%, Tây Ban Nha 17%…

Lúc đánh giá lại tính bằng VND giá thực tế tăng lên so sở hữu trước lúc đánh giá lại, trong lúc tỷ giá VND/USD ko có thay đổi lúc đánh giá lại, thì GDP tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái cũng sẽ tăng lên.

Theo đấy, tổng GDP của Việt Nam tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái trước đánh giá lại và sau đánh giá lại năm 2018 (chưa có số liệu mới) có thứ bậc tương ứng ở Đông Nam Á là 6/5, ở châu Á là 17/16. Trên thế giới là 45/40. Ví như tính cho năm 2020, thì thứ bậc cao hơn, vì năm 2019, Việt Nam GDP tăng trưởng cao, năm 2020 Việt Nam nằm trong Top 5-10 nước trên thế giới đạt tăng trưởng dương.

Ấy là tính tổng GDP bằng USD theo tỷ giá hối đoái của Việt Nam. Để so sánh sở hữu mọi nước thì bắt buộc tính tổng GDP bằng USD theo tỷ giá sức tìm tương đương (PPP). Do nhiều lý do, chủ yếu là do giá nhân công rẻ, GDP tính theo PPP cao hơn GDP tính theo hối đoái.

Chênh lệch giữa tỷ giá hối đoái so sở hữu PPP mặc dù đã giảm từ mức rất cao phương pháp đây vài chục năm nay đã giảm xuống (từ 5 lần xuống còn khoảng 3 lần – tức là sức tìm của 1 USD ở Việt Nam cao gấp 3 lần sức tìm 1 USD tại Mỹ). Mặc dù đã giảm như vậy, nhưng hệ số trên của Việt Nam vẫn còn cao hơn hệ số tương ứng của nhiều nước (Trung Quốc là 1,87, Nhật Bản 1,09, Hàn Quốc 1,19, Singapore 1,57, Brunei 2,56, Thái Lan 2,62, Malaysia 2,8, Philippines 2,88, Campuchia 2,89, Lào 2,95…); chỉ thấp thua một số nước (như Myanmar 5,03, Đông Timor 3,76, Indonesia 3,36…

Ví như tính theo PPP, GDP của Việt Nam năm 2020 chưa đánh giá lại ước đạt 819 tỷ USD, trường hợp tính theo đánh giá lại sẽ đạt khoảng 1.039 tỷ USD– đứng thứ bậc cao hơn so sở hữu lúc chưa đánh giá lại (ước ở Đông Nam Á sẽ vượt qua Singapore, Philippines, Malaysia lên đứng thứ 3 so sở hữu thứ 6).

Lúc tổng GDP đánh giá lại và tính bằng USD thì GDP bình quân đầu người tính bằng USD cũng sẽ được tính lại và cao hơn lúc chưa đánh giá lại. Ví như tính theo tỷ giá hối đoái, GDP bình quân đầu người tính bằng USD của Việt Nam qua một số năm như sau.

Theo đấy, lúc đánh giá lại, Việt Nam đã vượt qua Philippines lên đứng thứ 6 khu vực ASEAN so sở hữu thứ 7 trước lúc đánh giá lại.

Ví như tính bằng USD theo tỷ giá PPP, thì ước năm 2020 trước lúc đánh giá lại là 7.397 USD/người, sau lúc đánh giá lại sẽ đạt 10.653 USD/người.

Sở hữu tổng GDP và GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái và tỷ giá PPP tăng lên sau lúc đánh giá lại GDP, đã làm cho Việt Nam vươn lên là hấp dẫn hơn, lôi kéo hơn đối sở hữu mọi nhà đầu tư, thương mại nước ngoại trừ.

Lúc GDP đánh giá lại, trong lúc phần chênh lệch thu nhập từ nước ngoại trừ so sở hữu phần chi ra nước ngoại trừ về cơ bản tính như cũ, thì tổng thu nhập quốc gia (GDN), tỷ lệ GNI/GDP và GNI bình quân đầu người cũng tăng lên theo. Sở hữu GDP đánh giá lại tính bằng VND năm 2020 đạt 7.980 tỷ đồng; sở hữu thu nhập thuần túy từ nước ngoại trừ là -346,1 nghìn tỷ đồng, thì GNI tính theo GDP đánh giá lại sẽ là 7.634 nghìn tỷ đồng, bằng sắp 95,7% GDP, cao hơn tỷ lệ tương ứng lúc chưa đánh giá lại là 94,5%.

GNI tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái VND/USD đạt 331,4 tỷ USD và GNI bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái VND/USD đạt 3396 USD/người. Theo đấy, chỉ số và thu nhập trong chỉ số vững mạnh con người (HDI) sẽ cao hơn so sở hữu trước lúc đánh giá lại GDP (năm 2018 đạt 0,693, đứng thứ 118 thế giới; năm 2019 đạt 0,7 và đứng thứ 115). Ví như tổng GNI và GNI bình quân đầu người tính theo tỷ giá PPP, thì chỉ số về thu nhập trong chỉ số HDI cũng sẽ cao lên.

GÓP PHẦN TÍNH LẠI CHẤT LƯỢNG NỀN KINH TẾ

Việc đánh giá lại GDP cũng góp phần làm cho việc tính một số chỉ tiêu chất lượng tăng trưởng kinh tế cao hơn trước lúc đánh giá lại.

Hiệu quả đầu tư được đo lường bằng hệ số ICOR. ICOR được tính bằng phương pháp chia vốn đầu tư vững mạnh toàn xã hội (tính theo giá so sánh) cho mức tăng GDP (tính theo giá so sánh) – thể hiện để tăng 1 đồng GDP thì bắt buộc đầu tư bao nhiêu vốn đầu tư vững mạnh xã hội – tức là ICOR cao và tăng thì hiệu quả đầu tư thấp và giảm, ICOR thấp và giảm thì hiệu quả đầu tư cao và tăng. Lúc đánh giá lại, GDP sẽ cao lên, còn vốn đầu tư vững mạnh toàn xã hội có thể tăng thấp hơn nhiều, nên ICOR đều thấp hơn trước lúc đánh giá lại (năm 2011 là 5,5 so sở hữu 5,72, năm 2015 là 5,6 so sở hữu 5,8, năm 2019 là 6 so sở hữu 6,07).

Một chỉ tiêu quan trọng về chất lượng tăng trưởng là tốc độ tăng và mức năng suất lao động. So sở hữu trước lúc đánh giá lại, số lao động đang làm việc sắp như ko thay đổi, trong lúc GDP và tốc độ tăng GDP cao lên, do đấy năng suất lao động sau lúc đánh giá lại đã cao hơn cả về tốc độ tăng, cả về mức năng suất lao động. Mức năng suất lao động tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái sau lúc đánh giá lại đã cao hơn trước lúc đánh giá lại (năm 2010 là 2.865 USD so sở hữu 2.257 USD, năm 2015 là 4.506 USD so sở hữu 3.639 USD, năm 2019 là 6.778 USD so sở hữu 4.791 USD).

Lúc đánh giá lại, tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa/GDP sẽ thấp xuống so sở hữu GDP trước lúc đánh giá lại (năm 2010 là 51,4% so sở hữu 64,7%, năm 2015 là 67,7% so sở hữu 83,8%, ước năm 2020 là 81,6% so sở hữu 103,5%). Ở đây cần lưu ý tỷ lệ trên chỉ có tính tham khảo, cao hơn thực tế, bởi GDP là tính giá trị tăng thêm (ko bao gồm C2 – giá trị nguyên nhiên vật liệu), trong lúc giá trị xuất khẩu lại bao gồm cả C1 – khấu hao, C2, V, M – trường hợp loại trừ để so sánh thì tỷ lệ chỉ còn khoảng một nửa mọi tỷ lệ trên.

Dù sao, tỷ lệ xuất khẩu/GDP của Việt Nam cũng thuộc loại cao trong khu vực và trên thế giới (năm 2018, tỷ lệ tương ứng của Hồng Công là 188,3%, của Singaporre là 176,4% chủ yếu do 2 nơi này là thương cảng lớn, Malaysia 68,8%, Thái Lan 66,8%, Campuchia 61,5%, Philippines 31,7%, Indonesia 21%, Trung Quốc 19,5%, Nhật Bản 18,4%, Hàn Quốc 44%, Mỹ 12,2%, Ấn Độ 19,7%, Anh 30%, Đức 47,4%…). Tuy nhiên, độ mở rộng chủ yếu về số lượng, dựa trên giá nhân công rẻ, nhờ khu vực có vốn ĐTNN chiếm tỷ trọng lớn…

Từ 2016-2020, do xuất khẩu có quy mô và tốc độ tăng cao hơn nhập khẩu, nên Việt Nam đã chuyển từ nhập siêu lớn trước đấy sang xuất siêu lớn liên tục kỳ này. Tuy nhiên, do công nghiệp hỗ trợ còn rất yếu, tính gia công lắp ráp còn cao, nên nhập khẩu/GDP trước lúc đánh giá lại còn rất cao, mặc dù tỷ lệ này sau đánh giá lại đã thấp xuống (2010 là 60,3% so sở hữu 76,6%, 2015 là 53,4% so sở hữu 79,4%, ước 2020 là 75,9% so sở hữu 96,2%).

Song tính từ đầu năm tới 15/6/2021, Việt Nam đã chuyển sang nhập siêu 1,95 tỷ USD, do xuất khẩu có quy mô và tốc độ tăng thấp hơn nhập khẩu (143,36 tỷ USD, tăng 29,7% so sở hữu 145,32 tỷ USD, tăng 36,4%). Nhập khẩu tăng cao có một phần do bù đắp tình trạng “đứt gãy” trong năm trước, do nhu cầu chế tạo cao hơn, do nhiều siêu thị phòng ngừa giá thế giới tăng hơn nữa…; nhưng nhập siêu lúc giá cả thế giới tăng sẽ dễ dẫn tới “nhập khẩu lạm phát”, tác động tiêu cực tới cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá…

Đánh giá lại GDP sẽ làm cho thu ngân sách/GDP thấp hơn lúc chưa đánh giá lại (2010 là 21,9% so sở hữu 27,5%). Ví như GDP là hiệu quả của nền kinh tế, thì thu ngân sách là hiệu quả của hiệu quả, là cơ sở để chi ngân sách nuôi bộ máy, đầu tư, trả nợ lãi, vốn gốc… Nhiều tỷ lệ thu ngân sách/GDP thấp xuống, trong lúc tỷ lệ chi ngân sách/GDP còn cao, nên bội chi ngân sách liên tục diễn ra, dù lúc đánh giá lại thấp hơn lúc chưa đánh giá lại (2010 là 3,9% so sở hữu 4,9%, 2015 là 4,8% so sở hữu 5,9%, 2019 là 2,6% so sở hữu 3,4%). Diễn biến trên, nhất là bội chi, là thách thức, thậm chí nguy hiểm, lúc tỷ lệ vốn đầu tư/GDP cao hơn tỷ lệ tích lũy/GDP, lúc mọi tỷ lệ nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoại trừ/GDP còn cao…

Tỷ lệ nợ công/GDP trước và sau đánh giá lại qua một số năm: 2010 là 40,7% so sở hữu 50,9%, 2015 là 49,2% so sở hữu 61,8%, ước năm 2020 là 44,4% so sở hữu 56,8%. Nợ chính phủ, nợ quốc gia/GDP sau lúc đánh giá lại cũng thấp xuống so sở hữu trước đánh giá lại. Điều đấy đòi hỏi bắt buộc xác định lại trần mới và thực hiện để có giải pháp yêu thích.

TS. Đỗ Văn Huân

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá: