Dệt may Việt Nam hưởng lợi trong dài hạn nhờ EVFTADệt may Việt Nam hưởng lợi trong dài hạn nhờ EVFTA

Vietstock – Dệt may Việt Nam hưởng lợi trong dài hạn nhờ EVFTA

Lộ trình giảm thuế mang hàng dệt may Việt Nam trong EVFTA kéo dài 5-7 năm nên thời gian đầu thuế nhập khẩu mang một số mặt hàng vẫn còn cao hơn thuế suất GSP. Sau thời gian này, 100% mọi mặt hàng sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0%…

Ảnh minh hoạ

Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU bắt đầu được cải thiện từ tháng 8/2020, một phần do sự phục hồi sau khủng hoảng của dịch Covid-19, một phần do tác động tích cực từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và mọi nhà hàng EU cũng tăng cường đa dạng hóa thị trường.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Công Thương, tác động của EVFTA đối mang hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam ở thời điểm hiện tại là chưa nhiều.

Phân tích từ chuyên san EVFTA của Bộ Công Thương cho thấy, Hiệp định EVFTA có hiệu quả mang hàng may mặt về lâu dài, bởi quá trình giảm thuế diễn ra theo lộ trình từ 5-7 năm. Trong những năm thứ nhất EVFTA có hiệu lực, thuế suất thuế nhập khẩu đối mang một số mặt hàng vẫn còn cao hơn so mang thuế suất GSP (ưu đãi thuế quan phổ cập) 9,6% đang được hưởng. 100% mọi mặt hàng dệt may của Việt Nam sẽ được giảm thuế nhập khẩu về 0% sau tối đa 7 năm đề cập từ lúc EVFTA có hiệu lực.

LỢI ÍCH TỐI ĐA TRONG DÀI HẠN TỪ EVFTA

Theo số liệu Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU những tháng đầu năm 2020 đã giảm mạnh, nhưng đề cập từ tháng 8/2020 (thời điểm EVFTA có hiệu lực) tới hết quý 1/2021, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam bắt đầu cải thiện. Mức giảm tăng trưởng xuất khẩu (tính lũy đề cập từ đầu năm) cũng bắt đầu ghi nhận tăng trưởng trong 3 tháng đầu năm 2021.

5 tháng cuối năm 2020, xuất khẩu may mặc sang EU đạt 1,1 tỷ USD, giảm 6,4% so mang 5 tháng cuối năm 2019. Nhưng bước sang quý 1/2021, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường này đã tăng 3,44% so mang cùng kỳ năm trước.

Hà Lan vượt Đức phát triển thành thị trường nhập khẩu nhiều hàng may mặc nhất của Việt Nam trong khối EU mang tỷ trọng 22,73%. Bên cạnh đấy, Tây Ban Nha từ thị trường nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ 4 mang tỷ trọng 13,02% trong năm 2020 đã xuống vị trí thứ 5 trong 3 tháng đầu năm 2021 mang tỷ trọng chiếm 8,24%.

Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định EVFTA, hàng dệt may Việt Nam bắt buộc đáp ứng mọi quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa theo hiệp định này và được cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu EUR.1 theo EVFTA.

Theo thống kê của Cục Xuất nhập khẩu, tính từ ngày 1/8/2020 tới ngày 31/12/2020, kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU cấp C/O mẫu EUR.1 theo Hiệp định EVFTA đạt 216 triệu USD. Trong quý 1/2021, con số này đã đạt hơn 199 triệu USD.

Trong đấy, Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Ý, Romania là mọi thị trường có kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu có tiêu dùng C/O EUR.1 cao nhất. Đây đều là những thị trường nhập khẩu truyền thống của hàng dệt may Việt Nam trong khối EU.

Quý 1/2021, Pháp và Romania là hai thị trường có kim ngạch cấp C/O mẫu EUR.1 cho hàng may mặc của Việt Nam lớn nhất, lần lượt đạt 35,9 triệu USD và 31,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 18% và 15,8% trong tổng trị giá C/O cấp cho hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường EU.

THÁCH THỨC LỚN TỪ QUY TẮC XUẤT XỨ 

Có thể thấy, mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tiêu dùng C/O mẫu EUR.1 trong năm 2021 có sự gia tăng so mang năm 2020, nhưng con số này vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nói chung sang thị trường EU (chiếm sắp 30% kim ngạch xuất khẩu quý 1 năm 2021). “Như vậy, tỷ lệ tiêu dùng C/O mẫu EUR.1 của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU nhằm mục đích tận dụng ưu đãi thuế quan chưa đạt được mức kỳ vọng”, Cục Xuất nhập khẩu nhận định.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, có hai nguyên nhân chính dẫn tới việc hàng hóa xuất khẩu ko tiêu dùng C/O để hưởng ưu đãi thuế quan, đấy là hàng hóa đấy đã có thuế suất cơ sở nhập khẩu rất thấp hoặc bằng 0% hoặc hàng hóa đấy ko đáp ứng được quy tắc xuất xứ theo hiệp định.

Song ví như nhìn vào biểu thuế nhập khẩu của EU, số lượng mặt hàng dệt may có thuế suất cơ sở là 0% rất ít. Hầu hết thuế suất hàng dệt may của EU dao động từ 3% tới 12%. Lộ trình cắt giảm thuế mà EU dành cho hàng dệt may Việt Nam tối đa là 7 năm. Trong năm đầu lúc Hiệp định EVFTA có hiệu lực, một số mặt hàng dệt may có lộ trình cắt giảm thuế dài sẽ có thuế suất cao hơn so mang thuế suất tương ứng đang được áp dụng trong GSP.

Trong lúc đấy, EU cho phép hàng xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục được áp thuế GSP ngay cả lúc Hiệp định EVFTA có hiệu lực mang lộ trình 7 năm. Do đấy, nhiều nhà hàng vẫn sẽ tiếp tục lựa chọn cơ chế GSP thay vì EVFTA lúc xuất khẩu hàng dệt may sang EU.

Nói về việc đáp ứng quy tắc xuất xứ từ hiệp định, Bộ Công Thương đánh giá: quy tắc xuất xứ hàng dệt may trong EVFTA chặt chẽ hơn so mang nhiều hiệp định mà Việt Nam đang tham gia. Đây được coi là một thách thức lớn cho ngành dệt may Việt Nam gia tăng xuất khẩu và hưởng ưu đãi thuế quan từ hiệp định này.

Bởi tiêu chí xuất xứ hàng dệt may trong hiệp định được xây dựng trên quy tắc “hai quá trình”. Nghĩa là vải tiêu dùng để cắt may thành quần áo bắt buộc có xuất xứ từ EU hoặc Việt Nam. Trong lúc dệt may Việt Nam nhập khẩu kim ngạch lớn vải nguyên liệu từ nhiều thị trường trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Còn lượng vải nguyên liệu nhập khẩu từ EU lại rất khiêm tốn (133,55 triệu USD, chiếm 1,12% kim ngạch nhập khẩu vải năm 2020).

“Như vậy, sản phẩm dệt may của Việt Nam chỉ có thể dùng vải có xuất xứ EU hoặc vải được cung ứng trong nước để làm nguyên liệu cung ứng hàng dệt may xuất khẩu đi EU. Tuy nhiên, công suất cung ứng vải trong nước hiện vẫn ko đủ đáp ứng nhu cầu cung ứng xuất khẩu của ngành dệt may đi EU nói riêng cũng như đi toàn thế giới nói chung”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu nhận định.

Do đấy, để đáp ứng được nhu cầu cung ứng hàng dệt may xuất khẩu sang EU, về lâu dài, mọi nhà hàng Việt Nam cần bắt buộc có kế hoạch đầu tư máy móc thiết bị, khoa học để tăng cao năng lực cung ứng vải nguyên liệu trong nước, ko phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Một thách thức nữa, theo Bộ Công Thương, là quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA ko chỉ có thêm quy định mới mà phương pháp diễn đạt mọi tiêu chí xuất xứ cũng khác so mang mọi hiệp định mà Việt Nam đang tham gia. Chính vì vậy, nhà hàng Việt Nam, đặc biệt là mọi nhà hàng mới xuất khẩu sang EU theo EVFTA gặp nhiều bỡ ngỡ trong việc đọc và hiểu mọi quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa tại hiệp định này.

Chẳng hạn, việc áp dụng hạn mức linh hoạt cho sản phẩm dệt may trong EVFTA được thể hiện qua chú giải cuối trang tại danh mục Quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR). Thêm vào đấy, chỉ có những dòng hàng có ghi chú cuối trang về hạn mức linh hoạt mới được phép áp dụng, ko tự động áp dụng cho toàn bộ nguyên liệu và sản phẩm dệt may như một số hiệp định FTA khác. Do vậy, để có thể áp dụng một phương pháp chuẩn xác, nhà hàng dệt may Việt Nam cần bắt buộc hiểu rõ và hiểu đúng quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA.

“Như vậy, trong ngắn hạn, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ cho hàng dệt may xuất khẩu sang EU để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định EVFTA sẽ vẫn còn là hạn chế đối mang ngành dệt may Việt Nam. Trong dài hạn, lúc mức thuế suất hàng dệt may tiếp tục được cắt giảm sâu, tạo động lực cho ngành cũng như việc hình thành mọi chuỗi cung ứng khép kín từ nguyên liệu thô tới thành phẩm hoàn thiện cuối cùng, sẽ giúp ngành dệt may Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn nữa mọi ưu đãi từ Hiệp định EVFTA mang lại”, đại diện Cục Xuất nhập khẩu chia sẻ.

Vũ Khuê

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá: