Định nghĩa

Nợ phải trả là một khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Investo đầu tư 101: Nợ phải trả là gì?

Tìm hiểu về nợ phải trả

Nợ phải trả là tất cả các khoản mà doanh nghiệp nợ tại một thời điểm nhất định. Nợ phải trả có thể bao gồm các khoản vay phải trả, tiền lương nhân viên, các khoản phải trả, lãi phải trả, v.v… Tiền nợ bao gồm các khoản nợ ngắn hạn phải trả trong vòng một năm và các khoản nợ dài hạn được giãn dài hơn một năm. Nợ phải trả là một khoản mục trên bảng cân đối kế toán nằm cùng chỗ với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của các bên liên quan. Các nghĩa vụ tài chính này tạo nên một phần thiết yếu trong bức tranh tài chính của doanh nghiệp.

Ví dụ

Giả sử rằng Công ty xây dựng ABC đang muốn mở rộng hoạt động kinh doanh, do đó họ đã vay 5 tỷ đồng để mua một thiết bị mới. Hiển nhiên, thiết bị này là tài sản của công ty, nhưng số tiền mà họ nợ bên cho vay được xem là một khoản nợ phải trả. Khi Công ty Xây dựng ABC lập bảng cân đối kế toán hàng quý, họ sẽ nợ bên cho vay 5 tỷ đồng đối với khoản vay được sử dụng để mua thiết bị.

Xem thêm

Bài học

Nợ phải trả cũng giống như IOU (giấy xác nhận nợ)…

Đó là số tiền mà một công ty đang nợ và đã hứa trả trong tương lai, cho dù đó là khoản tiền họ nợ ngân hàng hay nợ lương nhân viên. Các công ty thường sử dụng IOU trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường.

Nợ phải trả: nguyên lý

Khi doanh nghiệp tiêu tiền thì tức là họ đang sử dụng số tiền đã có hoặc tiền đi vay. Việc vay mượn có thể là dưới dạng đi vay tiền mặt hoặc thỏa thuận riêng với nhà cung cấp dựa trên uy tín, khi đó nhà cung cấp sẽ cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ và doanh nghiệp sẽ trả tiền cho họ về sau này. Nợ phải trả là những nghĩa vụ tài chính chưa được thanh toán.

Nợ phải trả là một phần quan trọng trong bức tranh tài chính của một công ty. Giống như hầu hết người tiêu dùng, các doanh nghiệp không nhất thiết phải thanh toán mọi thứ bằng tiền mặt. Giả sử một người tiêu dùng muốn mua một ngôi nhà mới. Người tiêu dùng đó có khả năng phải thế chấp để mua nhà. Tương tự như vậy, các công ty cũng vay vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như xây dựng một tòa nhà hoặc thiết bị mới. Ngoài ra, đối với người tiêu dùng, có khi họ sẽ mua sắm ăn tiêu trong suốt cả tháng bằng thẻ tín dụng và sau đó sẽ thanh toán số dư vào cuối tháng. Tương tự, các doanh nghiệp cũng thuê các nhà cung cấp và nhân viên để mang lại hàng hóa hoặc dịch vụ cho họ, sau đó công ty sẽ trả tiền cho các bên đó sau.

Sự khác biệt giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn

Nợ phải trả có thể được chia thành hai loại chính:

  1. Nợ ngắn hạn
  2. Nợ dài hạn

Nợ ngắn hạn là những khoản nợ sẽ phải thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ khi công ty nhận được lợi ích kinh tế từ khoản nợ đó. Nói cách khác, chúng là các khoản nợ phải trả của năm tài chính hiện tại. Ví dụ tiêu biểu về nợ ngắn hạn chính là các khoản phải trả cho các nhà cung cấp nhất định hoặc trả lương cho nhân viên. Nợ ngắn hạn cũng bao gồm tiền lãi và các khoản thanh toán hàng tháng đối với các khoản nợ dài hạn. Ví dụ, khoản thế chấp 30 năm sẽ không phải là khoản nợ ngắn hạn, nhưng các khoản thanh toán hàng tháng cho năm sắp tới mới được tính là nợ ngắn hạn.

Nợ dài hạn là những khoản nợ không được thanh toán trong vòng một năm. Thường thì các khoản nợ dài hạn này sẽ là các khoản vay mà các công ty đi vay để mở rộng hoạt động kinh doanh. Những khoản nợ này có thể bao gồm tiền nợ mua các tòa nhà và thiết bị.

So sánh nợ phải trả, chi phí, doanh thu và tài sản

Có thể bạn đang thắc mắc về mối quan hệ của nợ phải trả với các khoản mục tài chính khác như tài sản, chi phí và doanh thu. Dĩ nhiên, tất cả các khoản đó đều liên quan đến số tiền mà công ty đang nắm giữ, không nắm giữ, chi tiêu, và không chi tiêu, v.v. Nhưng thực chất chúng đóng vai trò như thế nào?

Sự khác biệt giữa nợ phải trả và tài sản

Nợ và tài sản tồn tại song song trên bảng cân đối kế toán. Khoản mục nợ cung cấp thông tin tóm tắt về những thứ mà công ty đang nợ. Khoản mục tài sản cung cấp một cái nhìn tổng quan về những gì công ty đang có. Những tài sản này có thể bao gồm tiền, hoặc các tài sản vật chất như tòa nhà, thiết bị máy móc.

Như đã nêu trước đó, mỗi một giao dịch phát sinh đều bao hàm cả tài sản và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Nếu một công ty đi vay để mua một thiết bị, thì số tiền cần phải thanh toán đối với khoản vay đó được xem là một khoản nợ, nhưng máy móc là lại một tài sản.

Bảng cân đối kế toán mà các công ty dùng để báo cáo số liệu tài sản và nợ phải trả sẽ cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình tài chính của công ty đó. Các công ty đại chúng bắt buộc phải nộp các bản cập nhật cân đối kế toàn này hàng quý. Ngoài các tài sản và nợ phải trả, bảng cân đối kế toán cũng chứa số liệu về vốn chủ sở hữu của cổ đông trong công ty. Giới phân tích tài chính và các nhà đầu tư chứng khoán tiềm năng sẽ có thể sử dụng bảng cân đối kế toán để tìm hiểu thêm về tình hình tài chính của công ty.

Công thức chung mô tả mối quan hệ giữa tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của cổ đông có thể được trình bày như sau:

Tài sản – Nợ phải trả = Vốn chủ sở hữu

Sự khác biệt giữa nợ phải trả và chi phí

Mặc dù nghe có vẻ giống nhau, nhưng nợ phải trả và chi phí kinh doanh không giống nhau. Nợ phải trả là số tiền công ty đang nợ, trong khi chi phí là số tiền mà công ty chi ra để tiêu xài. Các khoản thanh toán chính là số tiền mà một công ty trả để triển khai hoạt động kinh doanh. Số tiền nợ được trình bày trên bảng cân đối kế toán. Trong khi đó, các khoản thanh toán được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.

Trong khi tài sản và nợ phải trả được đưa vào bảng cân đối kế toán để nhà đầu tư xem xét tình hình tài chính tổng thể của công ty, doanh thu và chi phí sẽ xuất hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh để giúp nhà đầu tư xác định mức lợi nhuận của công ty.

Công thức đơn giản mô tả mối quan hệ giữa doanh thu, chi phí và lợi nhuận của một công ty có dạng như sau:

Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận

Cách phân tích các khoản nợ phải trả

Các nhà phân tích tài chính và các nhà đầu tư tiềm năng sẽ coi các khoản nợ phải trả là một yếu tố cần phải “soi” khi đánh giá hoạt động tài chính của một công ty. Để làm điều này, họ có thể thực hiện thông qua một số phương án tiếp cận khác nhau.

Đầu tiên, các nhà phân tích có thể đánh giá tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty. Tỷ số này có tác dụng so sánh các khoản nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán của một công ty với vốn chủ sở hữu của cổ đông (cũng được trình bày trên bảng cân đối kế toán). Tỷ lệ này được xác định bằng cách chia tổng nợ cho tổng vốn. Ví dụ: nếu một công ty có nợ phải trả là 5 tỷ đồng và vốn chủ sở hữu là 10 tỷ dồg, thì tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của công ty đó là 50%.

Các công ty thuộc những ngành nghề đòi hỏi phải có nhiều thiết bị máy móc thì có thể sẽ có tỷ lệ nợ trên thu nhập cao hơn, nhưng nhìn chung, tỷ lệ nợ trên thu nhập phải thấp thì mới tốt.

Tỷ lệ nợ trên tài sản cũng là một đại lượng mà các nhà phân tích thường sử dụng khi nhìn vào bức tranh tài chính của một công ty. Tỷ số này có tác dụng đo lường các khoản nợ phải trả của một công ty trên tổng tài sản của họ. Công thức tính ở đây là chia tổng nợ phải trả cho tổng tài sản.

Ví dụ: nếu một công ty có nợ phải trả là 5 tỷ đồng và tài sản là 20 tỷ đồng thì tỷ lệ nợ trên tài sản của công ty đó là 25%. Nhìn chung, tỷ lệ nợ trên tài sản càng thấp thì càng tốt. Giả sử một công ty sắp ngừng kinh doanh, khi đó họ sẽ có thể sử dụng tài sản để trang trải các khoản nợ và hy vọng sẽ thu về khoản tiền thừa còn lại.

Giới phân tích tài chính thường đánh giá những khoản nợ phải trả để xem công ty đang làm ăn như thế nào. Ví dụ, các nhà phân tích hoạt động doanh nghiệp thường sẽ kỳ vọng công ty đang nắm giữ tiền mặt trong tay để trang trải tất cả các khoản nợ ngắn hạn, và các khoản nợ dài hạn của họ không được phép cao hơn số tài sản mà họ sẽ kiếm được trong tương lai.

Bảo hiểm trách nhiệm

“Nợ phải trả” là một thuật ngữ được dịch từ “Liability” trong tiếng Anh, tức là “trách nhiệm” đối với một điều gì đó. Như vậy, mặc dù từ “liability” vừa có nghĩa là số tiền mà một công ty đang nợ trên bảng cân đối kế toán, nhưng từ này cũng có nghĩa là trách nhiệm phải thực hiện trong các trường hợp khác.

Ví dụ, nếu một khách hàng đâm đơn kiện doanh nghiệp vì sự quản lý cẩu thả của doanh nghiệp đó thì doanh nghiệp có thể phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà họ gây ra cho khách hàng. Giả sử công ty A gần đây đã cử nhân viên lau sàn tại cửa hàng và mặt sàn lại đang ướt. Khi khách hàng B bước vào, anh ta bị trượt chân vì mặt sàn quá trơn và cần được chăm sóc y tế vì bị thương nặng. Khách hàng B thưa kiện công ty A và công ty phải chịu trách nhiệm về các chi phí điều trị y tế của vị khách hàng đó.

Để bảo vệ chính mình khỏi những tình huống như vậy, các doanh nghiệp thường mua bảo hiểm trách nhiệm để bảo vệ họ trước những tổn thất phát sinh trong trường hợp có kiện tụng.

Bảo hiểm trách nhiệm kinh doanh thường sẽ chi trả cho những thiệt hại mà công ty phải gánh chịu, cũng như các khoản án phí mà công ty phải trả trong vụ kiện.

Huân Hà – Theo learn.robinhood.com

Đánh giá bài viết

/ 5. Lượt đánh giá: